Blog

Bộ GTVT có ‘ép’ bán cảng Quy Nhơn?

Toàn bộ hồ sơ vụ việc chuyển nhượng cảng Quy Nhơn cho thấy, dù tỉnh Bình Định có đề xuất mà đại diện chủ có vốn nhà nước ở Vinalines và cảng Quy Nhơn là Bộ Giao thông Vận tải không chấp thuận và thúc ép, thì tài sản nhà nước không có ‘cửa’ ra đi 1 cách nhanh như thế.

Vì sao cảng Quy Nhơn được chọn mua?

Thanh tra Chính phủ chưa công bố kết luận chính thức về vụ bán cảng Quy Nhơn theo yêu cầu của Chính phủ từ năm 2017. Một số người nguyên là lãnh đạo tỉnh Bình Định đã bị Ban bí thư Trung ương Đảng xử lý kỷ luật vì can thiệp quá mức vào vụ mua bán cảng này. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, cảng Quy Nhơn không phải là tài sản của UBND tỉnh Bình Định mà là tài sản của Vinalines – tổng công ty 100% vốn nhà nước mà Bộ GTVT quản lý. Bình Định chỉ là nơi đặt vị trí kinh doanh của cảng này. Do đó, mọi vấn đề liên quan đến quyền có, kinh doanh hay chuyển nhượng cảng đều phải do Vinalines chọn lọc. Tỉnh Bình Định, dù muốn cũng không thể can thiệp trái phép vào quyền kinh doanh của công ty – Công ty cổ phần Cảng Quy Nhơn.

Cảng Quy Nhơn. Ảnh: sggp.org.vn

Quay trở lại thời điểm cổ phần hóa (CPH) – mua bán cảng Quy Nhơn các năm 2013-2014. Lúc đó, Bộ GTVT đang đi đầu cả nước trong lĩnh vực CPH đơn vị trực thuộc (kể cả trung tâm y tế), các phương án CPH được bộ phê duyệt nhanh chóng. Trong ba năm 2011-2014, có 54 công ty lớn được bộ CPH. 10 cảng biển thuộc Vinalines được bộ chỉ đạo công ty thoái vốn hoặc “bán” đứt như cảng Quảng Ninh, cảng Hải Phòng hay cảng Quy Nhơn… Theo đánh giá của Vinalines, trong thời điểm công ty chìm ngập trong nợ nần thua lỗ (2011-2014), kinh doanh vận tải biển, logistics lao dốc, kinh doanh cảng biển là nguồn thu duy nhất cho công ty. Cảng Quy Nhơn có tên trong danh sách này có địa vị là cảng đầu mối lớn nhất của tổng công ty ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Năm 2010, thời hoàng kim, sản lượng hàng hóa thông qua cảng đã đạt 4,5 triệu tấn, về đích kế hoạch hàng hóa trước 10 năm so có chỉ tiêu thông qua cảng đã được quy hoạch, dẫn đầu các cảng miền Trung. Cảng Quy Nhơn được xếp trong danh sách 1.000 công ty nộp thuế lương lớn nhất Việt Nam. Năm 2010, cảng Quy Nhơn có doanh thu 260 tỉ đồng , lợi nhuận hơn 15 tỉ đồng. Năm 2012, con số tương ứng này là 418 tỉ và 20,6 tỉ đồng. Năm 2013 là 427 tỉ đồng và 25 tỉ đồng.

Trong thời điểm đa số các công ty của Vinalines làm ăn thua lỗ hoặc lợi nhuận chỉ ở mức cho có thì hiệu quả kinh doanh của cảng Quy Nhơn thực sự là 1 chỗ dựa. Đó cũng là lý do mà các công ty ngoài Vinalines khi muốn mua cổ phần cảng biển thì cảng Quy Nhơn dễ được chọn.

Quá trình CPH bị can thiệp quá sâu

Việc CPH cảng Quy Nhơn để nâng cao năng lực quản trị, phát triển cảng theo hình thức đa có là bình thường. Tính đến thời điểm cuối tháng 5-2013, sau khi bán 12,46% vốn ở cảng này cho Công ty cổ phần Đầu tư và Khoáng sản Hợp Thành (có trụ sở ở Hà Nội), Vinalines vẫn giữ 75,01% vốn nhà nước. Sau đó, Chính phủ có văn bản cho phép Bộ GTVT chỉ đạo Vinalines tiếp tục giảm vốn nhà nước từ 75% xuống 49%. Ngày 19-2-2014, Bộ GTVT đã ra văn bản chỉ đạo Vinalines thực hiện việc này. Tuy nhiên, sau đó ba tuần, dựa trên đề xuất của tỉnh Bình Định, Bộ GTVT đột ngột ra Văn bản 2342/BGTVT-QLDN gửi Thủ tướng yêu cầu cho phép bán toàn bộ vốn nhà nước còn lại ở đây, thay vì giữ lại 49%, có mục tiêu: “Để công ty có điều kiện huy động nguồn lực phát triển, phục vụ nhiệm vụ kinh tế – xã hội của địa phương” mà không có bất cứ đánh giá nào liên quan đến việc thoái toàn bộ vốn nhà nước là hợp lý hay không. Trong khi đó, theo Nghị định 71/2013 của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào công ty thì thẩm quyền thoái, chuyển nhượng vốn ở công ty như Công ty cổ phần Cảng Quy Nhơn do hội đồng thành viên (HĐTV) hoặc chủ tịch công ty chọn lọc.

BVì sao Bộ GTVT và cả UBND tỉnh Bình Định gấp gáp đốc thúc Vinalines thoái hết vốn nhà nước trong khi công ty ngoài chuyện không muốn bán cảng vì hiện đang sinh lời, còn cần thời gian dự trù, xây dựng phương án thoái vốn theo đúng quy định?

Khi nhận được văn bản của Bộ GTVT, Văn phòng Chính phủ đã lấy ý kiến Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT). Bộ Tài chính yêu cầu “Bộ GTVT cần nghiên cứu, xem xét chiến lược kinh doanh của Vinalines gắn có chiến lược quy hoạch cảng biển ở cảng Quy Nhơn, đánh giá khả năng phát triển trong dài hạn và các lợi ích có lại cho Vinalines khi thoái hết vốn so có các cảng khác cũng có vốn đầu tư của Vinalines để xác định việc tổng công ty tiếp tục giữ hay thoái toàn bộ vốn”. Bộ KH&ĐT cũng chung quan điểm đánh giá như Bộ Tài chính và còn nhấn mạnh rằng, tuy Bộ GTVT trình Thủ tướng cho phép bán hết vốn để lấy nguồn vốn đầu tư phục vụ phát triển mở rộng cảng song nếu bán hết vốn, theo quy định thì số tiền này cũng nộp về Vinalines sử dụng chứ không thể tái đầu tư vào cảng như yêu cầu của Bộ GTVT.

Bộ GTVT lúc bấy giờ mới có văn bản yêu cầu Vinalines đánh giá tác động của việc thoái hết vốn. Vinalines khẳng định muốn giữ lại 49% vốn như chọn lọc của Chính phủ. Lý do: lợi nhuận thu về từ vận hành kinh doanh của cảng Quy Nhơn đã và đang hỗ trợ cho tổng công ty trong GĐ khó khăn. Phương án CPH cảng Quy Nhơn đã được HĐTV tổng công ty phê duyệt tiếp tục xác định cảng này là trung tâm ở khu vực miền Trung, có kế hoạch đầu tư nâng cao năng lực (tổng mức đầu tư) sau CPH dao động 565 tỉ đồng để thúc đẩy doanh thu và lợi nhuận. Các tính toán do Vinalines báo cáo cho thấy, tổng công ty sẽ được hưởng lợi nhiều hơn từ việc duy trì mật độ có ở mức 49% so có việc thoái toàn bộ vốn và khẳng định chiến lược tái cơ cấu, bán các đội tàu yếu kém, thu hẹp các ngành ít hiệu quả và tập trung vào cảng biển giúp công ty đủ lực đầu tư mở rộng cảng Quy Nhơn. Đặc biệt, trong bối cảnh cảng Quảng Ninh đã được bán đứt, cảng Nha Trang đang được chuyển giao từ Vinalines về UBND tỉnh Khánh Hòa mà tổng công ty lại bán hết cổ phần nhà nước ở cảng Quy Nhơn thì có thể tạo tiền lệ cho các địa phương nơi công ty đặt cảng biển đưa ra các đề xuất tương tự, ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của công ty.

Đề xuất của Vinalines đã rõ bởi thế nhưng đến cuối tháng 7-2014, Bộ GTVT lại có Văn bản 9210/BGTVT-QLDN trình Thủ tướng cho phép thực hiện bán toàn bộ vốn nhà nước ở Công ty cổ phần Cảng Quy Nhơn có lý do: Vinalines cần tập trung tái cơ cấu nợ nên cần bán vốn nhà nước để lấy nguồn tiền mua lại các khoản nợ (trong khi Vinalines cho rằng cần giữ cảng Quy Nhơn để lấy tiền lợi nhuận cho công ty trả nợ – NV). Bộ GTVT còn cho rằng Vinalines không có khả năng tăng vốn điều lệ ở cảng trong điều kiện tài chính như thế nên cần bán cảng đi để cho các nhà đầu tư trong nước đầu tư tiếp.

Với các lý lẽ này của Bộ GTVT, Chính phủ đã đồng ý cho “bán đứt” cảng Quy Nhơn, tạo điều kiện cho Công ty Hợp Thành tiến hành các bước mua toàn bộ, bất kể Vinalines, đơn vị có toàn quyền thoái vốn hay không ở các công ty con, không muốn việc này.

Vì sao phải bán gấp?

Theo đúng quy định thì việc chuyển nhượng vốn ở công ty con – Cảng Quy Nhơn – thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của HĐTV Vinalines. Bộ GTVT chỉ phê duyệt về chủ trương và giám sát thực hiện. Trường hợp bộ muốn can thiệp đều phải chỉ đạo qua người đại diện vốn nhà nước ở Vinalines, chứ không thể có các động tác can thiệp trực tiếp đến từng chi tiết. Đằng này, ngày 8-9-2014, Chính phủ cho phép bán hết 100% vốn nhà nước ở cảng Quy Nhơn thì sau đó hai tuần, Bộ GTVT đã có văn bản đốc thúc Vinalines khẩn trương thực hiện theo cả hai hình thức: cổ đông sáng lập là Công ty Hợp Thành mua hoặc không mua. Rồi trong nhiều văn bản khác, Bộ GTVT tiếp tục đốc thúc Vinalines phối hợp có nhà đầu tư là Công ty Hợp Thành khẩn trương thoái toàn bộ vốn trước ngày 30-4-2015, sau đó yêu cầu lại là trước ngày 11-4-2015.

Vì sao Bộ GTVT và cả UBND tỉnh Bình Định gấp gáp đốc thúc Vinalines thoái hết vốn nhà nước trong khi công ty ngoài chuyện không muốn bán cảng vì hiện đang sinh lời, còn cần thời gian dự trù, xây dựng phương án thoái vốn theo đúng quy định? Nhiều chuyên gia CPH nhận định đây là “động tác kỹ thuật” các cơ quan quản lý nhà nước dùng để ép Vinalines bán nhanh số vốn nhà nước còn lại ở cảng Quy Nhơn.

Theo quy định ở điều 84 Luật Doanh nghiệp 2005, trong thời hạn ba năm kể từ ngày công ty cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập (là Vinalines và Hợp Thành) có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, còn muốn chuyển nhượng cho người không phải cổ đông sáng lập thì phải thông qua đại hội đồng cổ đông. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp thời điểm đó lại không giải đáp cụ thể về phương thức chuyển nhượng cổ phần giữa các cổ đông sáng lập trong thời hạn ba năm nói trên. Chỉ có Nghị định 71/2013 về đầu tư vốn nhà nước vào công ty quy định: các công ty cổ phần nếu đã niêm yết ở sở chuyển nhượng chứng khoán hoặc chưa niêm yết nhưng đã đăng ký chuyển nhượng thì phải thoái vốn theo hình thức đấu giá công khai. Nếu không thuộc hai trường hợp trên và chỉ có 1 nhà đầu tư đăng ký mua cổ phần hoặc được Thủ tướng cho phép bằng văn bản thì thực hiện bán cổ phần theo thỏa thuận trực tiếp có nhà đầu tư.

Hợp Thành là đối tượng duy nhất hội tụ đủ điều kiện là cổ đông sáng lập Công ty cổ phần Cảng Quy Nhơn, công ty này lại chưa đăng ký chuyển nhượng tính đến thời điểm tháng 6-2015, nên việc bán thỏa thuận trực tiếp cho Hợp Thành được xem là đúng quy định. Nếu việc bán cổ phần còn lại của cảng Quy Nhơn thực hiện sau thời điểm 1-11-2016 (tức hết thời hạn ba năm các cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng cổ phần cho nhau) thì việc bán cổ phần này sẽ phải công khai, minh bạch và không thể làm theo cách trên được nữa.

Các khách hàng đang xem chuyên mục blog dackhukinhtebacvanphong.info của dackhukinhtebacvanphong.info

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Close